Đương Quy – Đặc điểm, công dụng và các bài thuốc chữa bệnh

0

Đương quy được biết đến là một vị thuốc dùng để chữa một số bệnh như kinh nguyệt không đều, thiếu máu,… Đặc điểm, thành phần hóa học, công dụng,… của đương quy sẽ được tổng hợp từ tài liệu của Việt Nam dưới đây.

Theo Những cây thuốc và vị thuốc Việt nam Đỗ tất Lợi trang 58 và Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam trang 833 – 840

A. Tên gọi

  • Đương quy còn gọi là tần quy, vân quy.
  • Tên khoa học: Angelica sinensis (Oliv.) Diels, (Angelica polymorpha Maxim. Var. sinenis Oliv).
  • Thuộc họ Hoa tán apraceae (Umbetliferae).
  • Đương quy (Radix Angelica sinensis) là rễ hay sấy khô của cây đương quy.

Quy là về, vì vị thuốc này có tác dụng điều khí, nuôi huyết, làm cho huyết đang loạn xạ trở về chỗ cũ do đó có tên như vậy.

B. Mô tả cây

Đương quy là một loại cây nhỏ, sống lâu năm, cao chừng 40-80cm, thân màu tím có rãnh dọc. Lá mọc so le, 2-3 lần xẻ lông chim, cuống dài 3-12cm, 3 đôi lá chét; đôi lá chét phái dưới có cuống dài, đôi lá chét phía trên đỉnh không có cuống; lá chét lại xẻ 1-2 lần nữa, mép có răng cưa, phía dưới cuống phát triển dài gần ½ cuống, ôm lấy thân. Hoa rất nhỏ màu xanh trắng họp thành cụm hoa hình tán kép gồm 12-40 hoa. Quả bế có rìa màu tím nhạt. Ra hoa vào tháng 7-8

Hình vẽ mô tả đương quy
Hình vẽ mô tả đương quy

C. Phân bố, thu hái và chế biến

Đương quy hiện nay ta vẫn phải nhập của Trung Quốc và Triều Tiên. Ta đã nhiều lần thí nghiệm trồng nhưng mới thành công ở phạm vi nhỏ ở Sapa tình Lào cai, chưa phổ biến rộng rãi.

Những mới đây chúng ta đã trồng thành công đương qui ở vùng đồng bằng quanh Hà Nội do lợi dụng thời tiết lạnh của mùa rét, tuy nhiên chất lượng có khác.

Tại trung Quốc, đương quy được trồng nhiều nhất ở các tình Cam Túc, Tứ Xuyên, Vân Nam, Thiểm Tây.

Hằng năm vào mùa gieo hạt, cuối thu đầu đông nhổ cây con cho vào hố ở dưới đất cho qua mùa đông. Qua mùa xuân lại trồng đến mùa đông lại bảo vệ. Đến mùa thu năm thứ 3 có thể thu hoạch. Đào rễ về cắt bỏ rễ con, phơi trong nhà hoặc cho vào trong thùng, sấy lửa nhẹ, cuối cùng phơi trong mát cho khô. Trên thị trường người ta còn phải ra quy đầu là rễ chính và một bộ phận cổ rễ; quy thân hay quy thoái là phần dưới của rễ chính hoặc là rễ phụ lớn.

Quỹ vĩ là rễ phụ nhỏ, Đông y cho rằng tính chất của mỗi bộ phận có khác nhau, nhưng hiện nay tại Trung Quốc người ta cũng đơn giản bớt đi và phần lớn trên thị trường trong nước cũng như xuất khẩu người ta không phân biệt nữa. Toàn rễ cãi rễ phụ được gọi là toàn quy.

D. Thành phần hóa học

Trong đường quy có tinh dầu. Có tác giải đã xác định tỷ lệ tinh dầu là 0,2%, tinh dầu có tỷ trọng 0,955 ở 15 độ C, màu vàng sẫm, trong; tỷ lệ axit tự do trong tinh dầu chiếm tới 405; thành phần chủ yếu của tinh dầu giống tinh dầu của đương quy Nhật bản (Dược học thông báo, 1954, trang 432 và Thực vật dược phẩm hóa học của Lâm Khải Thọ, tr.384).

Trong đương uy Nhật Bản Angelica acutilaba (Sieb.et Zucc). Kitagawa Ligusticum acutilobum (Sieb. Et Zucc), người ta thấy có tinh dầu. Trong tinh dầu thành phần chủ yếu là n-butylidenphtalit C12H1O2 và n-valerophenon O-caaacsboxy-axit C12H14O3. Ngoài ra còn cod n-butylphtalit C12H14O2, becgapten C12H8O4, sesquitecpen, safrola và ít vitamin B12.

Lá đương quy Nhật bản ở Thanh Trì (Hà Nội) chứa 0.60-0.70% tinh dầu (so với khối lượng khô tuyệt đối).

Xem thêm chi tiết tại đây: Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt nam tập 1 trang 834, 835

Hợp chất có trong đương quy
Hợp chất có trong đương quy

E. Tác dụng dược lý

Đương quy đã được nghiên cứu về mặt dược lý từ lâu. Sau đây là một số tác dụng chủ yếu.

Tác dụng trên tử cung và các cơ trơn.

Trên tử cung. Đương quy có 2 loại tác dụng: Một loại, gây kích thích và một loại gây ức chế.

Theo Schmidt, Y bác An và Trần Khắc khôi (1994 Chinese Med.J. 38: 362) thì hoạt chất chiết từ toàn bộ vị đương quy (dùng nước đun sắ hoặc rượu nhẹ độ thấm kiệt), tiêm cho chó đã gây mê (tĩnh mạch) thì thấy đối với tử cung 10 con không có chữa có 37,5% hiện tượng co, đối với chó có chửa hoặc đẻ không lâu thì100% hiện tượng co tử cung. Đối với các cơ quan có cơ trơn khác như ruột, bàng quang cũng có hiện tượng đó, đồng thời huyết áp hạ thấp và có tác dụng lợi tiểu (do tỷ lệ sacaroza cao trong thuốc).

Nếu như dùng tinh thể (không có tính chất bay hơi, không có đường và kiềm tính) chiết từ đương quy ra để tiêm vào tĩnh mạch thỏ thì cũng thấy sức co bóp  của tử cung tăng mạnh, nhưng huyết áp không hạ thấp mà lại tăng cao; nếu dùng tinh thể nói trên pha với dung dịch Tyrốt thành ½.000.000, rồi thí nghiệm trên tử cung cô lập của thỏ thì cũng thấy hiện tượng co bóp kéo dài; dung dịch pha hoãng 1/100.000 cũng làm cho mẩu ruột cô lập của thỏ co bóp mạnh. Các tác giả cho rằng tính chất kích thích này do tác dụng trực tiếp trên cơ trơn.

Theo Lưu Thiệu Quang,Trương Phát Sơ và Trương Diệu Đức (Trung Hoa y học tạp chí 21:611; 1935) thì đã dùng tinh dầu đương quy tiến hành 88 lần thí nghiệm trên tử cung cô lập của động vật và phát hiện thấy đối với tử cũng cô lập của thỏ, chó và chuột bạch ( có chửa hay không có chửa) với nồng độ 1/50 có tác dụng giãn nghỉ, nhưng tác dụng nhanh và kéo dài, nếu rửa hết thuốc thì tính chất khẩn trương lại khôi phục lại, như vậy chứng tỏ tinh dầu đương quy không làm tổn thương nhiều đối với cơ của tử cung. Với nồng độ 1/25 thì sự co của tử cung lập tức đình chỉ; với nồng độ 1/100 thì hơi có tác dụng giãn nghỉ. Tác dụng trên của đương quy ngược lại với tác dụng của tuyến yên và của histamin. Do đó cho rằng tác dụng của đương quy không do tác dụng trên hệ thống thần kinh mà do tác dụng trực tiếp ức chế trên cơ trơn của tử cung và do tác dụng trực tiếp nàu mà chữa thống kinh, so với atropin an toàn hơn.

Kinh nghiệm dùng đương quy trên lâm sàng cho biết đương quy có tác dụng làm dịu tử cung co quắp.  Theo báo cáo của Dương Đại Vọng, Triệu Túc Quân (1948 Trung Hoa y học tập chí, 34: 457) , tác giả đưa ra 3 tác dụng của đương quy

  • Ức chế sự co của tử cung, làm giãn nghỉ sự căng của tử cung, trực tiếp làm cho hành kinh không đau
  • Do cơ tử cung giãn nghỉ, huyết lưu thông mạnh, do đó có tác dụng cải thiện sự dinh dưỡng tại chỗ, làm cho tử cung chóng bình thường, gián tiếp chữa chứng thống kinh (thấy kinh đau đớn)
  • Đương quy có tác dụng làm cho ruột trơn và có thể chữa táo bón, làm giảm sung huyết vùng xương chậu do đó tham gia làm giản đau trong lúc kinh nguyệt

Và một số tác giả khác cũng nghiên cứu về tác dụng này.

Tác dụng trên hiện tượng thiếu vitamin E.

Theo Nghê Chương Kỳ (1941. Chinese J. Physiol. 16; 373) dùng thức ăn thiếu vitamin E nuôi chuột trong 2-5 tháng, 100% chuột bị bệnh thiếu vitamin E với những  bệnh ở tinh hoàn; nếu thêm vào thức ăn 5-6% đương quy thì 38% chuột không có những triệu chứng thiếu vitamin E nữa.

Tác dụng trên trung khu thần kinh.

Theo nhiên cứu của tác giả Nhật bản (Tửu tinh hòa thái lang, 1933) tinh dầu của đương quy có tác dụng trấn tĩnh hoạt động của đại não lúc đầu thì hưng phấn trung khu tủy sống, sau tên liệt, đưa đến huyết áp hạ thấp, nhiệt độ cơ thể hạ thấp, nhiệt độ cơ thể hạ thấp, mạch đập chậm và có hiện tượng co quắp; nhưng nếu tiêm dưới da thỏ thì các hiện tượng trên không rõ rệt, chỉ có liệt hô hấp trước, rồi đến liệt tim.

Tác dụng trên huyết áp và hô hấp

Với liều nhỏ: Huyết áp hơi hạ hấp, hô hấp hơi bị kích thích hoặc bị ảnh hưởng rất ít

Liều trung bình: Huyết áp thấp nhiều hơn, hô hấp khó khăn.

Liều lớn: huyết áp hạ rất mạnh, hô hấp khó khăn rõ rệt, cuối cùng hô hấp ngừng lại, gây chết

Ngoài ra còn một số tác dụng khác, xem chi tiết tại đâyNhững cây thuốc và vị thuốc Việt nam Đỗ tất Lợi trang 58  và Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt nam tập 1 trang 835, – 837.

F. Công dụng và liều dùng

Theo đông y đương quy vị nọt, cay, tính ôn. Vào 3 kinh tâm, can, tỳ, có tác dụng bổ huyết, hoạt huyết, nhuận áp, hoạt trường, điều huyết, thống kinh.

Chủ yếu chưa bệnh kinh nguyệt không đều, thấy kinh đau bụng; trước khi thấy kinh 7 ngày thì uống. Ngày uống 6-15g dưới dạng thuốc sắc (chia làm 2 lần uống trong ngày) hoặc dưới dạng thuốc rượu mỗi lần 10ml, ngày uống 3 lần. Uống luôn 7-14 ngày. Còn làm thuốc bổ huyết chữa thiếu máu, chân tay đau nhức và lạnh.

Đơn thuốc có đương quy dùng trong đông y

Bài tứ vật (tứ vật thang) đương quy, thục địa (hay sinh địa), mỗi vị 12g, bạch thược 8g, xuyên khung 6g, nước 600ml, sắc còn 200ml. Chia làm 3 lần uống trong ngày, làm thuốc chữa thiếu máu, cơ thể suy nhược, kinh nguyệt không đều, đau ở rốn, đẻ xong máu hôi chảy mãi không ngừng.

Đối với phụ nữ sau đẻ lắm bệnh có khi người ta dùng bài tứ vật nói trên thêm hắc can khương, hắc đạu (đậu đen), trạch lan, ngưa tất, ích mẫu, bổ hoàng.

Bài đương quy kiện trung thang của Trương Trọng Cảnh dùng chữa bệnh phụ nữ sau khi sinh đẻ thiếu máu, thuốc bổ huyết: Đương quy 7g,q uế chí, sinh khương, đại táo mỗi vị 6g, thược dược 10g, đường phèn 50g, nước 600ml, sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày.

Chữa phụ nữ rong kinh, rong huyết, có thau ra máu hoặc sảy thai ra máu không dứt (Giao ngải thang):

Đương quy 12g, sinh địa 12g, bạch thược 16g, xuyên khung 8g, a giao 8g, cam thảo 8g, ngải điệp 8g. Sắc uống.

Và một số bài thuốc khác, xem cụ thể tạiNhững cây thuốc và vị thuốc Việt nam Đỗ tất Lợi trang 59 và Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt nam tập 1 trang 837-840

Có thể bạn cũng biết